Tìm kiếm ở trang này

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Trần Anh Huy - 0906.883.817)

Tài nguyên

Thời tiết

Thủ Đô Hà Nội Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Thành Phố Hồ Chí Minh Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh

Liên kết Logo

Thống kê truy cập

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Đang trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    sang kien kinh nghiem hoa hoc 9 ( rat hay)

    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Văn Cường (trang riêng)
    Ngày gửi: 20h:43' 22-07-2008
    Dung lượng: 75.0 KB
    Số lượt tải: 4233
    Số lượt thích: 0 người

    Phòng Giáo dục Đào tạo Lạc Thuỷ
    Trường PTCS đồng tâm
    =======o0o=======





    Sáng kiến kinh nghiệm

    Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
    thông qua bài tập hoá học


    





    Người viết: Đậu Kiên Cường
    Tổ: Khoa học - tự nhiên
    Trường PTCS đồng tâm




    Năm học: 2004 - 2005
    Phần I: Đặt vấn đề


    Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu có tác dụng to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước ta chính vì thế việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông theo tinh thần nghị quyết IX của đảng được chỉ rõ “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
    Để đạt được những điều đó cùng với sự thay đổi về nội dung, hình thức tổ chức dạy học, cần hình thành cho học sinh kỹ năng phân tích, tổng hợp, tạo cho học sinh năng lực tự học, tự rèn luyện bồi bổ kiến thức cho mình là việc vô cùng quan trọng.
    Đối với nhà trường THCS việc tự rèn cho mình khả năng phân tích tổng hợp là rất cần thiết đối với tất cả các bộ môn trong đó có bộ môn hoá học, bởi hoá học là bộ môn khoa học có rất nhiều ứng dụng đối với các nghành khoa học khác. Góp phần đẩy mạnh sự thay đổi của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đất nước đang đổi mới.
    Trong chương trình hoá học phổ thông để nắm bắt đầy đủ các kiến thức của bộ môn thì bài tập hoá học được đặc biệt quan tâm vì nó là phương tiện hữu hiệu trong giảng dạy bộ môn hoá học. Bài tập hoá học góp phần nâng cao khả năng tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức mà các em được học.


    Phần II: nội dung
    I. cơ sở khoa học
    1.Cơ sở lí luận:
    Trong quá trình hơn 10 năm làm công tác giảng dạy hoá học ở trường phổ thông tôi nhận thấy bài tập hoá học là phương tiện hữu hiệu trong giảng dạy hoá học.
    -Bài tập hoá học là nguồn để hình thành, rèn luyện, củng cố, kiểm tra các phương thức, kĩ năng cho học sinh.
    -Bài tập hoá học có tác dụng mở rộng, nâng cao kiến thức cho học sinh.
    -Bài tập hoá học giúp việc vận dụng kiến thức vào thực tế.
    -Bài tập hoá học giúp giáo viên rèn luyện nhân cách cho học sinh: Tính chủ động sáng tạo, tính cẩn thận kiên trì ... ý chí quyết tâm trong học tập.
    -Đặc biệt bài tập hoá học còn giúp việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh.
    2.Cơ sở thực tiễn:
    Thực tiễn qua quá trình dạy học tôi nhận thấy:
    -Nếu không chú trọng rèn luyện khả năng tư duy cho học sinh thì kiến thức học sinh tiếp thu rất rộng và hời hợt.
    -Độ bền và nhớ kiến thức không lâu.
    -Việc tạo hứng thú và niềm tin cho học sinh trong quá trình học sẽ gặp nhiều khó khăn.
    II. Nội dung cụ thể:
    Trên cơ sở thực tiễn và lý luận đã phân tích ở trên chúng tôi thấy việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập hoá học là cần thiết.
    Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh là một quá trình liên tục, phức tạp trải qua nhiều giai đoạn, nhiều mức độ.
    *Một mặt: Trong hoạt động học tập nhận thức cần nâng dần từng bước từ mức độ thấp đến cao:
    -Tích cực động não.
    - Độc lập suy nghĩ.
    -Tích cực sáng tạo.
    * Mặt khác: Cần rèn luyện học sinh nâng dần các dạng hoạt động từ dễ đến khó.
    -Vận dụng kiến thức cơ bản.
    -Tổng hợp kiến thức.
    -Phát hiện xây dựng kiến thức mới.
    -Nâng cao kiến thức.
    Theo tôi để rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh trước hết phải:
    1.Hình thành cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản vững vàng sâu sắc.
    Đó là hình thành các khái niệm, các định luật, các tính chất, các quy luật ...về cấu tạo chất và về phản ứng hoá học.
    2. Rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy logic chính xác:
    Học sinh thông qua các thao tác: Quan sát, Phân tích , tổng hợp và dựa vào bản chất của vấn đề để tìm ra cách giải quyết ngắn gọn sáng tạo.
    Thí dụ:
    Cho hỗn hợp X Gồm FeO, Fe2O3 và có khối lượng 30,4 g. Nung hỗn hợp này trong một bình kín chứa 22,4 lít CO (ĐKTC), khối lượng hỗn hợp khí thu được là 36 g. Xác định thành phần hỗn hợp khí. Biết rằng X bị khử hoàn toàn tạo thành Fe.
    *Algrit giải:
    +Gọi số mol FeO, Fe2O3 tham gia phản ứng lần lượt là a,b
    (a,b > 0)
    +Viết 2 phương trình phản ứng.
    +Tính số mol CO2 sinh ra
    +Lập phương trình bậc nhất 2 ẩn theo khối lượng 2 ô xít.
    + Lập phương trình bậc nhất 2 ẩn theo khối lượng khí tạo thành.
    +Giải hệ phương trình tìm ra a = 0,2 mol; b = 0,1 mol
    +Tính số mol CO dư ( nCO(dư) = 0,5 mol )
    +Tính số mol CO2tạo thành ( nCO2 = 0,5 mol )
    *Cách khác: Học sinh đọc đề, phân tích đề, nhận xét:
    Độ tăng khối lượng của khí = khối lượng ô xi lấy ra từ 2 ô xít.
    +nCOban đầu = 1mol  MCO = 28g
    +Độ tăng khối lượng khí = 36 - 28 = 8g = mO
    +Số mol 0 nO == 0,5 mol
    +Cứ 0,5 mol CO kết hợp với 0,5 mol O tạo thành 0,5 mol CO2
    +Thành phần hỗn hợp khí sau khi phản ứng gồm:
    0,5 mol CO dư
    0,5 mol CO2
    Phân tích: Nếu giáo viên hướng dẫn học sinh biết dùng nguyên lý bảo toàn nguyên tử, ta có thể đơn giản cách tính mà không phải tính riêng lẻ cho từng phản ứng. Như vậy tư duy logic, chính xác được phát triển, thể hiện học sinh đã biết dựa vào bản chất hoá học của bài toán chứ không chỉ chú trọng nhiều tính toán để tìm ra đáp số của bài.
    3.Rèn luyện năng lực tư duy khái quát hoá trong giải bài tập hoá học
    Năng lực khái quát cao là khả năng phát hiện phát hiện những nét chung bản chất của nhiều vấn đề, nhiều đối tượng...để đưa vấn đề... đó về một kiểu nhất định. Trong giải bài tập hoá học khả năng khái quát thể hiện ở năng lực học sinh biết phân dạng bài tập hoá học, và biết tìm phương pháp giải chung cho từng dạng bài.
    4.Rèn khả năng độc lập suy nghĩ :
    Là khả năng biết tự đặt ra vấn đề, giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết vấn đề, không thoả mãn với những cái có sẵn, luôn luôn tìm ra cách giải quuyết mới ngay cả trong các bài tập quen thuộc.
    Thí dụ: Trong sách giáo khoa hoá 9 có bài tập
    Từ 80 tấn quặng Firit chứa 40 S sản xuất được 92 tấn axit sunfuric. Tính hiệu suất của quá trình.
    *Alorit giải:
    + Viết 3 phương trình
    t
    4FeS2 + 11O2 = 8SO2 + 2 Fe2O3 (1)
    t
    2SO2 + O2 = 2SO3 (2)
    xúc tác
    SO3 + H2O = H2SO4 (3)

    +Tính khối lượng S có trong 80 tấn quặng Firit
    +Dựa vào phương trình (1) tính khối lượng SO2
    +Dựa vào phương trình (2) tính khối lượng SO3
    +Dựa vào phương trình (3) tính khối lượng H2SO4
    +Tính hiệu suất.
    *cách khác:
    Học sinh nhận thấy quá trình sản suất H2SO4 từ quặng Firit gồm nhiều phản ứng kế tiếp (sản phẩm của phản ứng này là chất tham gia của phản ứng kế tiếp...)
    Học sinh lập hồ sơ chuyển hoá từ 3 phản ứng trên
    1mol FeS2 2 mol SO2 2 mol SO3 2 mol H2SO4
    Hay 1mol FeS2 (chứa 2 mol S) 2 mol H2SO4
    +Tính lượng S có trong 80 tấn quặng Firit
    +Tính khối lượng H2SO4 thu được theo lý thuyết
    +Tính hiệu suất.
    Phân tích: Trong giảng dạy bài tập hoá học nếu giáo viên chú ý hướng dẫn các em thao tác so sánh, khái quát hoá, chú ý đến bản chất phản ứng, thấy rõ mối quan hệ giữa các đại lượng thì học sinh đã được rèn tốt tư duy sáng tạo.
    5. Rèn luyện tư duy sáng tạo linh hoạt thông qua việc tìm các cách giải của một bài tập.
    Thí dụ: Cho 10,8 g một kim loại hoá trị III tác dụng với Clo có dư thu được 53,8 g muối. Xác định kim loại theo phản ứng.
    Cách 1: Tính theo phương trình hoá học
    Gọi kim loại hoá trị III là A, nguyên tử khối là a ( a>0 )
    PTHH : 2A + 3Cl2 = 2ACl3
    2 mol : 3 mol : 2 mol
     mol  mol ACl3
    Ta có:
    
    a = 27. Kim loại đó là Al
    Cách 2:
    Dựa vào định luật bảo toàn khối lượng. Vì kim loại phản ứng hết ta có:
    mKim loại + mclo tham gia phản ứng = m muối

    mCl = 53,4 - 10,8 = 42,6 (g)
    nCl = = 0,6 mol
    Từ phương trình  nA = = 0,4 (mol)
     a x 0,4 = 10,8
    a = 27 Kim loại đó là Al
    Cách 3:
    Khối lượng nguyên tố Clo có trong 53,4 g muối
    54,3 - 10,8 = 42,6 g
    Số mol nguyên tố Clo có trong muối
    ncl =  = 1,2 ( mol )
    Số mol muối tạo thành =  = 0,4 ( mol )
    Ta có: 0,4 x ( a + 35,5 x 3 ) = 53,4
     a = 27 Kim loại đó là Al
    Phân tích:
    Thực hiện yêu cầu này tuy tốn nhiều thời gian nhưng cùng một lúc nó giúp ta đạt được nhiều mục đích.
    +Phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
    +Tổng kết các phương pháp giải bài tập.
    +So sánh và đánh giá các phương pháp giải.
    6.Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua việc hướng dẫn học sinh ra đề, tự giải và tự kiểm định kết quả.
    Việc tự ra một đề bài tập đặt học sinh vào vị trí phải sử lý nhiều tình huống khác nhau, theo các mức độ khác nhau.
    Thí dụ:
    Từ sơ đồ mô
    No_avatar

    393061

    Cam on anh Cuong va anh Huy ve tai lieu cac anh da chia se! 

     

    No_avatarf

    eo tai chang duoc chu la

     

    No_avatarf

    eo tai chang duoc chu la

     

    5213331

    Huỳnh Vũ GIA NHẬP TRANG THẦY. RẤT VUI NẾU ĐƯỢC THẦY GHÉ THĂM, CÙNG NHAU HỌC HỎI & CHIA SẺ KINH NGHIỆM. THÂN!

     

     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓

    print