Tài nguyên

Thời tiết

Thủ Đô Hà Nội Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Thành Phố Hồ Chí Minh Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh

Liên kết

Sắp xếp dữ liệu

Đang trực tuyến

4 khách và 0 thành viên

CHÀO MỪNG QUÝ VỊ TRUY CẬP WEBSITE THƯ VIỆN HỌC LIỆU BẬC THCS

bai 49 quan the

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Tỉnh
Ngày gửi: 15h:33' 18-11-2011
Dung lượng: 90.5 KB
Số lượt tải: 113
Số lượt thích: 0 người
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ:
Kết quả của việc dạy học không chỉ phụ thuộc vào nội dung kiến thức mà còn phụ thuộc vào phương pháp dạy học. Việc lựa chọn các phương pháp không phải tiến hành ngẫu nhiên, tùy tiện theo chủ quan của giảo viên mà là sự tác động qua lại giữa hoạt động trí tuệ của thầy và trò để đạt được hiệu cao nhất.
Trong dạy học, việc lựa chọn những phương pháp dạy học như thế nào phụ thuộc vào chủ đề của bài học, trình độ trí tuệ của học sinh. Phương pháp dạy học hiện nay không chỉ nhằm dễ nhớ, dễ hiểu, học bài mau thuộc mà cao hơn là giúp học sinh đào sâu suy nghĩ, tìm tòi, phát huy khả năng của họ, nhớ "cái họ hỏi", nhớ "cái giáo viên đòi". Và phương pháp dạy học đang được nhiều giáo viên áp dụng hiện nay đó là phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề. Vì dạy học đặt và giải quyết vấn đề có vị trí, ý nghĩa trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Một trong những nhiệm vụ chính đặt ra cho giáo viên là tập cho học sinh suy nghĩ, làm cho các em có năng lực hoạt động độc lập, tích cực theo hướng không ngừng đổi mới và làm phong phú thêm vốn khoa học, có kỹ năng độc lập giải quyết các vấn đề phức tạp ở những mức độ khác nhau. Dạy học giải quyết vấn đề yêu cầu học sinh phải gắng sức suy nghĩ dựa vào tính độc lập của mình, sẽ đáp ứng nhiệm vụ bồi dưỡng nhân cách tích cực, chủ động sáng tạo.
Trong công tác dạy học đổi mới hiện nay, vấn đề tự nghiên cứu, lấy học sinh làm trung tâm của nhận thức được đặt lên hàng đầu, do đó phải có yếu tố gây hứng thú học tập, phương tiện kích thích tư duy tích cực ở hoc sinh, hướng học sinh vào tư duy cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao trong học tập.

PHẦN II: NỘI DUNG:
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Vị trí của môn sinh học trong giáo dục phổ thông.
Môn sinh học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của giáo dục phổ thông. Việc giảng dạy môn sinh học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thúc cơ bản ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành cho học sinh nhưng kỹ năng và thói quen làm việc khoa học, góp phân tạo ra ở học sinh các năng lực nhận thức, năng lực hành động và các phẩm chất về nhân cách mà mục tiêu giáo dục đề ra; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục tham gia lao động sản xuất, có thể thích ứng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, học nghề, trung cấp chuyên nghiệp hoặc đại học.
Môn sinh học có khả năng to lớn trong việc rèn luyện cho học sinh tư duy logic và tư duy biện chững, hình thành ở học sinh niềm tin về bản chất khoa học của các hiện tượng tự nhiên cũng như khả năng nhân thức của con người, khả năng ứng dụng khoa học để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống.
Môn sinh học có quan hệ gắn bó chặt chẽ, qua lại với các môn khoc học khác như toán học, hóa họa, vật lý học, tâm lý học.....
2. Mục tiêu của việc dạy môn sinh học trong nhà trường phổ thông
a. Đạt được một hệ thống kiến thức cơ bản phổ thông
Mục tiêu môn sinh học Trung học cơ sở nhằm trang bị những kiến thức cơ bản tương đối hoàn chỉnh về cấu tạo, hoạt động của các cơ thể sống thông qua các đại diện thuộc các nhóm vi sinh vật, nấm, thực vật, động vật và con người, bước đầu hiểu được các quy luật cơ bản của quá trình sống, của hiện tượng di truyền và biến dị, của mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật và với môi trường sống, về sự phát triển của thế giới sinh vật, làm cơ sở cho việc hiểu biết những nguyên tắc kỹ thuật trong sản xuất có liên quan đến sinh học, các biện pháp giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, nhằm bảo vệ tăng cường sức khỏe để có thể tiếp tục học lên trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề hoặc đi vào cuộc sống.
b. Rèn luyện và phát triển kỹ năng chi học sinh
Quan sát các hiện tượng và cá quá trình sinh học trong tự nhiên, trong đời sống hàng ngày hoặc trong phòng thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguốn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập bộ môn.
Sử dụng các dụng cụ phổ biễn của bộ môn để tiến hành các thí nghiệm đơn giản trên cơ thể sinh vật.
Phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự đoán
 
Gửi ý kiến